Khu đô thị Thủ Thiêm : Góc nhìn lịch sử (Phần 2)

0
1309
thuthiem08
Bản vẽ minh họa mặt bằng trong đồ án quy hoạch Thủ Thiêm năm 1972. Nguồn: Wurster, Bernadi and Emmons Architects and Planners (1972)

Đồ án Thủ Thiêm 1972: Một đô thị ‘tự túc dồi dào’

Phần tiếp theo của series bài viết: Khu đô thị Thủ Thiêm : Góc nhìn lịch sử (Phần 1)

Thủ Thiêm không bị lãng quên quá lâu. Ba năm sau khi đồ án của Doxiadis được phê duyệt, một nghiên cứu khác được bắt đầu, thực tế hơn và với một tầm nhìn khác cho Thủ Thiêm.

Quy hoạch phát triển khu đô thị Thủ Thiêm lần hai, hoàn thành năm 1972, do một nhóm công ty tư vấn dẫn đầu bởi Wurster, Bernadi and Emmons Architects and Planners (WBE) đóng tại San Francisco thực hiện. Các thành viên khác của nhóm gồm: Một công ty tư vấn tài chính – kinh tế, một công ty về giao thông và một về kỹ thuật hạ tầng. Một đội ngũ đa ngành và có tầm nhìn chiến lược đã giúp đồ án Thủ Thiêm năm 1972 có những màu sắc mới. Tại thời điểm này, Thủ Thiêm đã được nhìn nhận như là sự mở rộng của khu trung tâm hiện hữu chứ không còn chỉ là một dự án khu dân cư thí điểm như trong đồ án của DA. Đồng thời, tiếp nối đồ án DA, quy hoạch Thủ Thiêm năm 1972 vẫn khuyến khích mô hình đô thị đa chức năng vốn là đặc tính của đô thị Việt Nam, báo cáo đồ án viết: “… kế hoạch phát triển nầy còn khuyến khích việc kết hợp khu gia cư, chính trị và các cơ sở thương mãi, kỹ nghệ có phạm vi hoạt động nhỏ [2][vốn đã tạo nên đặc trưng] và làm cho mỗi Quận trong Đô thành được tự túc dồi dào [3]

thuthiem06
Ảnh chụp sông Sài Gòn từ bến Bạch Đằng nhìn về phía Bắc trong báo cáo của WBE cho thấy dòng sông lúc đó đã nhộn nhịp thuyền bè như thế nào. Bán đảo Thủ Thiêm nằm bên lề phải. Nguồn: Wurster, Bernadi and Emmons Architects and Planners (1972)

Tránh sai lầm của đồ án do DA thực hiện, đồ án Thủ Thiêm năm 1972 có một phần Sưu – khảo [4] công phu tập trung năm nhóm vấn đề chính: xu hướng phát triển của vùng Sài Gòn; địa chất và địa dạng; đánh giá lưu lượng giao thông cho các tuyến đường nội bộ và các phương án cùng chi phí vượt sông Sài Gòn; dự báo 30 năm về giá trị đất đai, nhu cầu sử dụng đất, phân tích phí tổn – lợi cho từng phương án và dòng tiền đầu tư công; đánh giá chính sách, luật lệ của chính quyền về phát triển đô thị. Có lẽ rất ít, nếu không phải là không có đồ án quy hoạch nào cho đến tận ngày hôm nay có được tính tổng hợp và đa ngành thực sự như quy hoạch Thủ Thiêm năm 1972.

Về mặt cấu trúc, đồ án 1972 phát triển xung quanh một hệ thống đường huyết mặt ba lớp song song hình vòng cung uốn theo hình hài của bán đảo. Cấu trúc này được phát triển dựa trên nhận thức rằng mô hình một trục Đông – Tây như trong đồ án 1965 dồn hết lượng giao thông vào một tuyến huyết mạch duy nhất và không khuyến khích phát triển ven sông Sài Gòn. Để giảm chi phí đầu tư hạ tầng, những tuyến đường trục chính là sự mở rộng và kéo dài của hai con đường cũ trên bán đảo [5], đồng thời tất cả các con rạch được giữ nguyên và kết nối với nhau để gia tăng khả năng thoát nước và phục vụ giao thông thủy. Các ô-phố-cực-lớn trong đồ án 1965 cũng được thay thế bằng những ô phố nhỏ hơn, không quá khác biệt về kích cỡ so với trung tâm Sài Gòn hiện hữu, để dễ dàng phân kỳ và chia nhỏ quy mô đầu tư.

thuthiem07
Bản vẽ quy hoạch sử dụng đất trong đồ án quy hoạch Thủ Thiêm năm 1972. Nguồn: Wurster, Bernadi and Emmons Architects and Planners (1972)

Thủ Thiêm được nối với Quận Nhất thông qua kéo dài đại lộ Hàm Nghi và đường Nguyễn Bỉnh Khiêm – hai trục lộ cùng với bờ Đông của sông Sài Gòn tạo thành một tam giác phát triển để xây dựng một trung tâm mới cho đô thành Sài Gòn. Ở giữa trung tâm bán đảo là khu “Chánh – Phủ”. Nhà ở được phân bố hai bên vành đai giao thông trong khi đó công nghiệp được bố trí ở bờ Tây bán đảo, đối diện với Tân Thuận – nơi mà ý tưởng về một khu chế xuất cũng đang được thai nghén. Trong đồ án này, nhóm tư vấn cũng đề xuất một quảng trường dài từ bờ sông Sài Gòn, đối diện Công trường Mê Linh, tới khu hành chính nằm ở lõi trung tâm – một ý tưởng tiếp tục được khai thác trong các quy hoạch sau này.

thuthiem08
Bản vẽ minh họa mặt bằng trong đồ án quy hoạch Thủ Thiêm năm 1972. Nguồn: Wurster, Bernadi and Emmons Architects and Planners (1972)

Ba phần thú vị nhất của đồ án là những thảo luận về việc kết nối hai bờ sông Sài Gòn, phần về tài chính và phần đề xuất chính sách. Dựa trên những nghiên cứu giao thông và giá trị đất đai, đồ án yêu cầu thành phố sớm hoàn thành tuyến đường vành đai về phía Nam (đường Nguyễn Văn Linh hiện nay) để giảm lưu lượng giao thông xuyên qua trung tâm thành phố và kết nối vơi sân bay tương lai (sân bay Long Thành), di dời Tân Cảng và xưởng đóng tàu Hải Quân (Ba Son) để xây cầu thấp kết nối Quận Nhất với Thủ Thiêm. Tất cả những đề xuất này đều phải chờ tới 30 năm sau mới được xem xét thực hiện bởi chính quyền mới.

Một nghiên cứu chi phí – lợi ích dựa vào ba tình huống về khả năng phát triển hạ tầng của chính phủ được đưa ra xem xét để dẫn tới kết luận rằng giải pháp phù hợp nhất là triển khai chậm trong 25 năm với cầu vượt sông Sài Gòn sẽ được xây trong vòng 15 năm, để tránh gây sức ép lên ngân khố quốc gia đồng thời vẫn tạo được giá trị đất đai lớn hơn chi phí đầu tư hạ tầng. Nghiêu cứu cũng chỉ ra rằng bằng sau 15 – 20 năm, chính phủ có thể bắt đầu thu hồi tiền đầu tư thông qua nguồn thu từ bán và cho thuê đất trên bán đảo.

Cuối cùng, trong nhiều chính sách được đề xuất, nổi bật là việc đề nghị đưa vào hệ thống thuế dựa vào giá trị bất động sản (assessment tax), mở rộng địa giới đô thị để bao gồm vùng nông thôn xung quanh và 20% đất ở triển khai bởi Cơ quan Phát triển Điền địa sẽ là nhà cho người thu nhập thấp thuê và trợ giá 50%.

thuthiem09
Thiết kế cho khu vực triển khai thí điểm. Nguồn: Wurster, Bernadi and Emmons Architects and Planners (1972)
http://canhocaocapquan2.info/wp-content/uploads/2015/10/thuthiem10.jpg
Thiết kế cho khu vực triển khai thí điểm. Nguồn: Wurster, Bernadi and Emmons Architects and Planners (1972)

Một dự án thí điểm được lựa chọn ở phía Bắc Thủ Thiêm bởi khu vực này tiêu biểu cho Thủ Thiêm với sự đa dạng về các hoạt động sử dụng đất khác nhau, vị trí nằm gần cầu Sài Gòn và hệ thống hạ tầng hiện có. Dự án thí điểm được kỳ vọng sẽ là nơi thử nghiệm mô hình phát triển đô thị mới cả về kỹ thuật và pháp lý trước khi chúng được triển khai trên phần còn lại của bán đảo. Cơ quan Phát triển Điền địa và Gia cư sẽ xây cất hạ tầng và 1500 đơn vị nhà ở cho công chức tại đây để làm “mồi” thu hút đầu tư tư nhân. Khu vực ven mặt nước sẽ giành cho các tiện ích công cộng, bao gồm một khu chợ ven sông Sài Gòn, nơi nông hải sản từ các miền có thể đổ về bằng đường thủy. Dọc theo đường cao tốc phía nam khu thí điểm, các nhà quy hoạch bố trí công nghiệp nhẹ để tạo công ăn việc làm cho cư dân tương lai trong khoảng cách đi bộ, đồng thời giảm nhu cầu giao thông trong đô thị – một cách tiếp cận sáng tạo dựa trên quan sát đô thị Sài Gòn. Mô hình phân tán đất công nghiệp nhẹ và văn phòng có giá thuê thấp xen kẽ vào các khu dân cư để tạo việc làm và điều tiết giao thông cũng là hướng đi mà Singapore bắt đầu áp dụng vào thời điểm đó, trở thành đặc tính của đô thị này cho tới ngày hôm nay.

Hạn chế lớn nhất của đồ án Thủ Thiêm năm 1972 có lẽ chính là tuyến đường huyết mạch vòng cung được thiết kế như một đường cao tốc thay vì một đại lộ trong đô thị. Về mặt kỹ thuật, các nhà quy hoạch Hoa Kỳ có thể có lý khi đề xuất tuyến đường này để phân phối lưu lượng giao thông tốt hơn trên bán đảo. Tuy nhiên, về mặt thiết kế đô thị, giải pháp này, cộng với việc tôn trọng hoàn toàn hiện trạng kênh rạch, đã “băm” Thủ Thiêm thành từng “ốc đảo” đô thị nhỏ, kết nối kém nhưng lại có quy mô quá nhỏ để phát triển độc lập. Thiết kế Thủ Thiêm của WBE cũng thiếu hẳn những đại lộ duyên dáng và có tính biểu tượng cao như di sản đô thị mà người Pháp đã để lại bên kia sông Sài Gòn.

Tập trung vào chiến lược phát triển, đồ án của WBE do đó thiếu vắng những đề xuất về kiến trúc công trình và không gian công cộng cũng như sự tương tác giữa hai thành phần này như những gì mà đồ án năm 1965 của DA đã đóng góp. Tuy nhiên, thông qua bản vẽ minh họa mặt bằng, có thể thấy rằng các nhà quy hoạch Hoa Kỳ vừa thực tế và cũng rất nhạy cảm với bối cảnh địa phương bằng việc tiếp tục tạo ra một thành phố của những công trình và không gian công cộng nhỏ, thân thiện với con người, phân tán khắp nơi, luôn có sự gắn kết một cách tự nhiên, bất quy tắc với sông nước, như những gì mà họ quan sát được tại thành phố Sài Gòn và các đô thị miền Nam khi ấy.

Quy hoạch Thủ Thiêm năm 1972 và sau đó là Kế hoạch phát triển vùng Sài Gòn năm 1974 do Nha Kiến Thiết Thị Thôn [6] thực hiện, là những bước tiến dài về phương pháp quy hoạch trong lịch sử phát triển đô thị ở Việt Nam. Bước tiến này, tiếc thay, không được kế thừa sau năm 1975. Nền kinh tế chỉ huy và tư duy quy hoạch Xô Viết vốn thiên về tính hoành tráng của công trình và không gian công cộng, về vai trò thượng tôn của kỹ thuật trước môi trường, về tính tổ chức thay vì sự phát triển “hữu cơ” của đô thị đã làm các quy hoạch đương đại ở miền Nam vừa “khô” hơn, vừa thiếu tính hiệu quả và thực tế. Tuy nhiên, cũng như những quy hoạch trước 1975 vốn chẳng thể thành hiện thực do chiến tranh, các quy hoạch sau 1975 cũng không có vai trò thực sự quan trọng trong định hình đô thị bởi sự xa rời thực tế phát triển và năng lực tài chính của Chính phủ.

Công ty WBE đứng đầu bởi kiến trúc sư William Wilson Wurster, hiệu trường trường Kiến trúc thuộc Đại học California tại Berkely từ 1950 – 1963. Wurster là người cổ vũ cho tư duy đa ngàng trong thiết kế, coi trọng yếu tố bản địa trong thiết kế và chống lại trào lưu quốc tế do Le Courbusier khởi sướng. Chính ông là người lập ra Trường Thiết kế Môi trường tại Berkely trong đó kiến trúc, thiết kế cảnh quan và quy hoạch (vốn thiên về chính sách phát triển) được đào tạo dưới một mái trường.
Đánh giá của bạn!

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY